Quê hương
Vùng đất Hắc Dịch
Nếu làng Lam Thủy ngoài Quảng Trị là quê gốc, nơi dòng họ khởi nguồn và các đời tổ tiên đầu tiên yên nghỉ, thì Hắc Dịch là quê hương phương Nam, nơi cành Nguyễn Bá bén rễ và sinh sôi từ nửa sau thế kỷ hai mươi. Vùng đất này nằm ở phía bắc thành phố Phú Mỹ cũ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh. Trước khi đón bước chân của tổ tiên ta, Hắc Dịch đã có một chiều dài lịch sử riêng, trải mấy nghìn năm, đáng để con cháu tỏ tường.
Đất của người Chơ Ro
Mảnh đất này đã có người sinh sống từ rất xa xưa. Ngay tại xã Sông Xoài kề bên Hắc Dịch, các nhà khảo cổ đã tìm thấy di chỉ Sông Xoài 2, có niên đại khoảng hai nghìn năm trăm đến ba nghìn năm, thuộc nền văn hóa Đồng Nai cổ. Nghĩa là từ thuở dựng nước xa xôi, nơi đây đã in dấu chân con người.
Chủ nhân lâu đời của vùng đất là người Chơ Ro, còn gọi là Châu Ro, một tộc người bản địa của miền Đông Nam Bộ, tiếng nói thuộc dòng Môn-Khmer. Họ sống rải rác trên các triền đồi thấp, lập thành từng buôn, làm nương làm rẫy, thờ Thần Rừng và giữ nếp sống theo mẫu hệ. Cả một vùng rộng lớn quanh Hắc Dịch, xưa gọi là các tổng miền thượng của xứ Bà Rịa, chính là đất tụ cư của người Chơ Ro. Trong các tài liệu về cộng đồng các dân tộc Việt Nam, Hắc Dịch được nhắc tới như một trong những nơi người Chơ Ro cư trú đông, cùng với Phước Thái, Ngãi Giao và Bàu Lâm. Cho tới ngày nay, con cháu người Chơ Ro vẫn còn sinh sống trên chính vùng đất này và các nơi lân cận.
Tên gọi Hắc Dịch
Hắc Dịch là một địa danh cổ, có gốc từ tiếng nói của người Chơ Ro bản địa. Trong sổ sách xưa, nơi đây được chép là một buôn, tiếng gọi làng của các tộc người miền thượng, với tên gốc Hích Dịch, về sau chuẩn hóa thành Hắc Dịch như ngày nay.
Nguồn gốc tên gọi ấy nay đã truy được đến tận gốc bản địa. Trong công trình khảo cứu địa danh Chơ Ro có tên Notes on Chrau Ethnogeography, in năm 1980, nhà ngôn ngữ học David Thomas đã ghi lại rằng nơi người Việt gọi là Hát Dịch, tức Hắc Dịch, vốn là một buôn của người Chơ Ro mang tên Palây Gasăch, còn gọi Kisăch, nằm ngay ranh giới giữa Biên Hòa và Phước Tuy, đúng vùng Phú Mỹ ngày nay. Trong tiếng Chơ Ro, palây nghĩa là buôn, là làng. Tiếng Dịch trong tên đất chính là âm săch của người Chơ Ro được người Việt đọc chệch sang, còn tiếng Hắc, Hát, Hích là âm đầu của tên buôn, một âm tiết nhẹ mà tai người Việt thuở trước nghe mỗi thời một khác. Như vậy, cái tên mà con cháu hôm nay quen gọi thật ra là tiếng gọi buôn làng của những cư dân đầu tiên trên đất này, được người Việt phiên lại theo âm.
Cái tên ấy nằm trong cả một hệ địa danh Chơ Ro của vùng đã được học giả giải mã, cùng với những buôn lân cận nay mang tên Việt: Palây Jilâm thành Bàu Lâm, Palây Tajăh thành Bình Giả, Palây Prơ thành Bàu Trơ, Palây Cabŏh thành Tầm Bó. Hắc Dịch của dòng họ ta là một mắt xích trong hệ tên đất xa xưa ấy.
Một điều cần nói cho ngay thẳng: chữ Hắc trong tên đất, tuy theo mặt chữ Hán Việt có nghĩa là màu đen, nhưng đó chỉ là cách người đời sau nhìn vào mặt chữ mà hiểu, chứ không phải nghĩa gốc. Gốc thật của tên là tiếng Chơ Ro.
Còn nghĩa gốc của tiếng Chơ Ro trong tên đất thì đến nay sách vở vẫn chưa ghi lại. Chính nhà ngôn ngữ học David Thomas, người đã ghi chép tên buôn này, cũng chỉ chú rằng tiếng săch nghe trùng âm với tiếng Việt, mà không dịch được nghĩa. Có một điều đáng ghi về cảnh vật của đất: Hắc Dịch thuở xưa vốn có rất nhiều cây muồng mọc khắp vùng, và một con suối cùng miền cũng được người Việt gọi là Suối Muồng. Song đó là tên đặt theo cây cối quanh vùng, còn tiếng săch của người Chơ Ro có phải nghĩa là cây muồng hay không thì chưa có căn cứ để khẳng định. Dù nghĩa gốc là gì, chừng ấy cũng đủ cho thấy tên đất còn vọng lại tiếng nói của những người đã ở đây trước nhất.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Tư, trong bộ Từ điển địa danh hành chính Nam Bộ, cũng xác nhận Hắc Dịch là một địa danh thuộc tiếng của người dân tộc bản địa. Cái tên đã có từ thời nhà Nguyễn, khi đây là một làng thuộc tổng An Trạch, huyện Long Khánh lập năm 1837, phủ Phước Tuy, tỉnh Biên Hòa.
Ghi chú khảo cứu, dành cho người tìm hiểu về sau
Địa danh gốc Chơ Ro của Hắc Dịch được ghi trong công trình của nhà ngôn ngữ học David Thomas, Notes on Chrau Ethnogeography, in trong tuyển tập Notes from Indochina on Ethnic Minority Cultures (Gregerson và Thomas chủ biên, SIL Museum of Anthropology, ấn phẩm số 6, năm 1980), trang 219. Nguyên văn:
"Palây Gasăch (Kisăch, Vn. Hát Dịch) lies between Daq Njrang Swai and Daq Châu Pha, W of Palây Panhiq, N of Palây Mrơ, and E of Palây Racŭng, E of the Biên Hòa-Phước Tuy border. There may possibly be a phonological relationship between săch and dịch."
"Palây Racŭng (Vn. Hát Dịch) lies on the Biên Hòa-Phước Tuy border W of Palây Gasăch."
Tạm dịch: Buôn Gasăch (còn gọi Kisăch, tên Việt là Hát Dịch) nằm giữa suối Njrang Swai và suối Châu Pha, phía tây buôn Panhiq, phía bắc buôn Mrơ, phía đông buôn Racŭng, về phía đông đường ranh Biên Hòa - Phước Tuy. Có thể có một mối liên hệ ngữ âm giữa săch và dịch. Buôn Racŭng (tên Việt là Hát Dịch) nằm trên đường ranh Biên Hòa - Phước Tuy, phía tây buôn Gasăch.
Trong đoạn trên, tiếng Daq nghĩa là suối, sông. Daq Châu Pha chính là suối Châu Pha, nay là xã Châu Pha kề bên Hắc Dịch, chi tiết này khẳng định chắc chắn vị trí buôn Gasăch đúng là vùng Hắc Dịch ngày nay.
Về nghĩa của tiếng săch, cùng gốc ấy có một con suối được David Thomas chép với hai tên Việt song song. Nguyên văn (Thomas 1980, trang 237):
"Daq Gasêch, Gasăch (Vn. Suối Sách, Suối Muồng). This is the northernmost tributary of D. Gapŭl, flowing W from Gŭng Char. Chr. săch [săč] is phonetically equivalent to NVn. sach [săč]."
Tạm dịch: Suối Gasêch, Gasăch (tên Việt là Suối Sách, Suối Muồng) là nhánh trên cùng phía bắc của suối Gapŭl, chảy về phía tây từ núi Char. Tiếng Chơ Ro săch trùng âm với tiếng Việt sách.
Như vậy Thomas chỉ nói săch trùng âm với tiếng Việt, chứ không dịch nghĩa. Tra các từ điển ngôn ngữ Môn-Khmer (Sidwell 2000, trong đó có cả từ điển Chrau của Thomas và Sảng Lực Thổ 1966; cơ sở dữ liệu SEAlang), gốc săch trong tiếng Chơ Ro và các tiếng họ hàng mang các nghĩa như chọn lựa, tát nước bắt cá, hay sách vở, nhưng không nghĩa nào là cây muồng; và không một tiếng Bahnar nào có từ chỉ cây muồng gần âm săch. Vì vậy, tên Suối Muồng nhiều phần là một tên Việt đặt theo cảnh vật, do vùng này quả thật nhiều cây muồng, sinh ra song song với tên phiên âm Suối Sách, chứ không có nghĩa rằng tiếng săch là cây muồng. Nghĩa gốc của tên buôn Gasăch đến nay vẫn để ngỏ, chờ người sau khảo cứu sâu hơn. Nguồn có thể giải tiếp là cuốn Ngữ-Vựng Chrau của Thomas và Sảng Lực Thổ (1966).

Ngọn núi Thị Vải bên cạnh
Kề bên vùng Hắc Dịch, sừng sững ngọn núi Thị Vải, ngọn núi cao nổi tiếng của cả vùng Phú Mỹ. Theo sách Gia Định thành thông chí và Đại Nam nhất thống chí, núi mang tên một người con gái nhà họ Lê thuở xưa đã lên núi dựng am, xuống tóc tu hành; dân trong vùng kính trọng, lấy tên bà đặt cho núi và cho cả dòng sông Thị Vải. Sách xưa chép núi này là núi Nữ Tăng, tục gọi là núi Bà Vãi.
Lại có một giai thoại được truyền tụng trong vùng, rằng thuở chúa Nguyễn Ánh còn bôn tẩu tránh quân Tây Sơn, có lần lạc vào núi Thị Vải và được vị ni sư nơi đây giúp cho thoát ra an toàn; về sau lên ngôi lấy hiệu Gia Long, nhà vua đã sắc phong ngôi chùa trên núi. Chuyện ấy là lời truyền của nhà chùa, chưa được sử sách xác nhận, nhưng cũng là một nét trong bức tranh xưa của vùng đất mà Hắc Dịch nằm trong đó.
Hắc Dịch qua các thời
Dưới thời nhà Nguyễn, Hắc Dịch là một làng thuộc tổng An Trạch, huyện Long Khánh, phủ Phước Tuy, tỉnh Biên Hòa. Huyện Long Khánh được lập năm Minh Mạng thứ mười tám, tức năm 1837, trên vùng đất mà sử cũ gọi là miền thượng du. Sang thời Pháp thuộc, làng Hắc Dịch thuộc tổng Cơ Trạch, tỉnh Bà Rịa. Người Pháp khi ấy xếp cả vùng này vào các tổng của người bản địa; theo một chuyên khảo lập năm 1902, tỉnh Bà Rịa có bảy tổng, trong đó bốn tổng người Kinh và ba tổng người dân tộc, và Hắc Dịch nằm trong nhóm ba tổng người dân tộc ấy.
Buôn Hắc Dịch xưa vốn rộng lớn, bao trùm cả một vùng mà sau này tách ra thành nhiều xã. Địa bàn các xã Tóc Tiên, Sông Xoài, Châu Pha và Hắc Dịch ngày nay đều từng nằm trong buôn Hích Dịch của tổng Cơ Trạch.
Trải qua các cuộc chiến tranh của thế kỷ hai mươi, vùng rừng Hắc Dịch từng là một địa bàn căn cứ, nương vào địa thế rừng sâu. Đó là chuyện của một thời đã qua.
Sau năm 1975, khi non sông liền một dải, vùng đất bước vào một trang mới. Năm 1976, Hắc Dịch thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Nai; đến tháng Tám năm 1991, khi tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tái lập, huyện Châu Thành trở về tỉnh này. Năm 1994, huyện Tân Thành được thành lập, Hắc Dịch là một trong các xã hợp thành. Năm 2018, Hắc Dịch từ xã trở thành phường khi huyện Tân Thành lên thị xã Phú Mỹ. Đầu năm 2025, Phú Mỹ lên thành phố. Đến giữa năm 2025, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu sáp nhập vào Thành phố Hồ Chí Minh, và từ ngày mồng một tháng bảy năm 2025, phường Hắc Dịch cùng xã Sông Xoài hợp thành phường Tân Thành thuộc Thành phố Hồ Chí Minh. Tên gọi Hắc Dịch từ đó thôi làm tên một đơn vị hành chính, nhưng vẫn sống trong ký ức và trong gia phả của dòng họ.
Buổi đầu là rừng hoang
Tới đây xứ sở lạ lùng, Con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh.
Ca dao của lưu dân Việt buổi mở đất phương Nam
Câu ca dao xưa của những người đi mở cõi cũng là tâm trạng của lớp người về khai phá Hắc Dịch. Những năm cuối thập niên bảy mươi, đầu thập niên tám mươi của thế kỷ trước, nơi đây còn là vùng rừng hoang. Cây rừng lâu năm chen dày, cỏ mọc cao hơn đầu người, trăn rắn lớn và thú rừng hãy còn nhiều. Đến buổi thanh bình, người các nơi tìm về khai hoang, phát rừng vỡ đất, buổi đầu lắm phần gian nan. Trên đất mới, nhà nhà trồng điều làm cây chủ lực; về sau, khi cây điều già cỗi sa sút, người ta dần chặt điều mà chuyển sang cao su, trồng sắn cùng các loại cây khác. Bằng bàn tay bền bỉ của lớp cư dân mới, rừng rậm hoang vu ngày nào dần thành ruộng rẫy, xóm làng.
Dòng họ ta đến đất Hắc Dịch
Cành Nguyễn Bá thuộc lớp người từ làng Lam Thủy, Quảng Trị vào khai hoang lập nghiệp trên đất Hắc Dịch sau năm 1975. Người Quảng Trị khi ấy là một luồng di dân lớn tìm vào vùng đất này; ở Ngãi Giao kề bên, sử làng còn chép rằng những năm ấy đông đảo cư dân từ Huế, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi cùng đổ về.
Cụ Nguyễn Bá Yến ở đời thứ mười tám yên nghỉ tại Nghĩa trang ấp Suối Nhum, Hắc Dịch, đánh dấu dòng họ đã bén rễ nơi phương Nam. Sang đời thứ mười chín, hai anh em ông Nguyễn Bá Mỹ và ông Nguyễn Bá Nhật cùng an cư trên đất này. Ông Nguyễn Bá Mỹ theo nghề dạy học, giữ chức Hiệu trưởng, gắn bó trọn đời với vùng đất. Từ đời thứ hai mươi, con cháu sinh ra và lớn lên ngay trên đất Hắc Dịch, xem nơi đây là quê hương thứ nhất, là nơi chôn nhau cắt rốn.
Từ nương rẫy đến phố phường
Từ cuối thế kỷ trước, cả vùng Phú Mỹ bước vào thời công nghiệp hóa. Những khu công nghiệp lần lượt mọc lên, kinh tế chuyển dần từ nương rẫy sang nhà máy và bến cảng. Đất Hắc Dịch cũng đổi thay theo nhịp ấy, từ một vùng thuần nông nghèo khó buổi đầu vươn lên thành phố phường sầm uất, kề cận cụm cảng và các khu công nghiệp lớn của vùng. Vùng đất từng là rừng thiêng nước độc, nơi con chim kêu cũng phải sợ, nay đã thành một miền quê trù phú, đô hội.
Hai miền quê
Dòng họ ta khởi nguồn từ Lam Thủy ngoài Trung, rồi đơm cành trên đất Hắc Dịch phương Nam. Lam Thủy là nơi cội rễ ăn sâu, Hắc Dịch là nơi cành lá vươn ra. Một dòng họ hai miền quê, gốc rễ ngoài Trung và cành lá trong Nam, cả hai đều là quê hương đáng để con cháu muôn đời gìn giữ và tưởng nhớ.