Gia phả họ Nguyễn Bá
Chi Lục · phái Nguyễn Trí · làng Lam Thủy

Dòng họ

Nguồn gốc dòng họ

Chỗ đứng của dòng họ trong tộc Nguyễn

Dòng họ ta là cành Nguyễn Bá, thuộc phái Nguyễn Trí, trong chi Lục của họ Nguyễn làng Lam Thủy.

Thủy tổ khai canh có sáu người con trai, mỗi người mở một chi, xếp theo thứ tự Nhất, Nhị, Tam, Tứ, Ngũ, Lục. Chi Lục là dòng của người con thứ sáu. Trong chi Lục chia làm ba phái là Nguyễn Trí, Nguyễn Quang và Nguyễn Văn; dòng ta thuộc phái Nguyễn Trí. Về sau, khi trong nhà có bậc mang phẩm hàm, con cháu lấy chữ "Bá" làm chữ lót, từ đó thành cành Nguyễn Bá nối truyền cho tới ngày nay.

Ngược về cội rễ, dòng ta nối từ thủy tổ khai canh làng là ngài Nguyễn Đĩnh, đứng ở đời thứ nhất, người từ Châu Hoan, tức vùng Nghệ An và Hà Tĩnh xưa, theo bước Nam tiến vào lập nên làng Lam Thủy khoảng năm 1558. Gia phả chỉ chép tường tận trực hệ từ đời thứ mười lăm trở đi, khởi ở cụ Suất đội Nguyễn Trí Chuân, rồi truyền liền mạch không đứt đoạn qua các đời sau đến ngày nay.

Mạch trực hệ từ đời mười lăm

Đời 15 · Cụ Nguyễn Trí Chuân. Cụ giữ chức Suất đội, là võ quan chỉ huy trong quân. Cụ bà là Nguyễn Thị Trác. Cụ là bậc khởi đầu của trực hệ nhánh Trí chi Lục.

Đời 16 · Cụ Nguyễn Trí Vị, tên chữ Bá Thạch. Cụ là con Suất đội Nguyễn Trí Chuân. Vâng lệnh cha, cụ nhận hàm Tùng phẩm Bá hộ; theo học nghề võ, thi trúng tam trường võ thuật gồm các khoa cử tạ và lăn khiên; ngoài ra còn tinh thông tử vi. Về già, cụ được suy tôn làm Hội chủ. Cụ bà trực hệ là Lê Thị Phi, con ông Lê Tấn ở Trà Lộc. Chính từ hàm Bá hộ của cụ mà các con trai lấy chữ "Bá" làm chữ lót, mở ra cành Nguyễn Bá.

Đời 17 · Cụ Nguyễn Bá Ngạn. Cụ sinh ngày mồng 2 tháng 5 năm Giáp Thân, là con cụ Bá Thạch Nguyễn Trí Vị và cụ bà Lê Thị Phi. Cụ làm quan Thất phẩm; năm Bính Dần bổ phó đội Khánh Hòa, rồi thăng chánh đội, chuyển bổ vào Quảng Ngãi, sau trở về Quảng Trị. Đến tuổi trí sĩ, cụ được hưởng Tiên chỉ và được truy thăng Chánh Quản cơ hưu trí. Cụ thọ tám mươi bảy tuổi, mất ngày 30 tháng chạp năm Tân Hợi. Cụ bà trực hệ là Võ Thị Tài, con ông Võ Văn Gặp, tộc trưởng làng An Truyền.

Cụ Ngạn nối tiếp mạch võ quan của cha ông. Trong họ ngoài làng quen gọi cụ là "ông Cai", theo chức chánh đội cụ từng đảm nhiệm. Cụ vốn có sức vóc hơn người, một mình đương nổi phần việc của nhiều tráng đinh; sức lực phi thường ấy được con cháu ghi nhớ và truyền tụng như một niềm kính trọng, tự hào của dòng họ.

Đời 18 · Cụ Nguyễn Bá Yến. Cụ là con cụ Chánh Quản cơ Nguyễn Bá Ngạn và cụ bà Võ Thị Tài, sinh ngày 20 tháng chạp năm Ất Hợi, tức năm 1935; mất ngày 26 tháng 10 năm Tân Mùi, tức năm 1991. Cụ bà là Lê Thị Khôn, con ông Lê Văn Cang ở La Duy, sinh năm 1933.

Đời 19 · Ông Nguyễn Bá Mỹ. Ông là con cụ Nguyễn Bá Yến và cụ bà Lê Thị Khôn, sinh ngày 2 tháng 9 năm 1960. Ông tốt nghiệp Cử nhân Đại học Giáo dục, theo nghề dạy học, giữ chức Hiệu trưởng và nghỉ hưu năm 2020. Bà là Nguyễn Thị Vĩnh Phước, cũng theo nghề dạy học.

Đời 20. Từ đời này, con cháu bắt đầu đặt tên theo lối mới, chữ lót "Bá" không còn dùng thường xuyên, song cội cành Nguyễn Bá vẫn nối liền không dứt.

Ba đời võ quan nối nhau

Điều đáng tự hào bậc nhất của dòng họ là mạch võ quan truyền ba đời liền:

  • Đời 15, cụ Nguyễn Trí Chuân giữ chức Suất đội.
  • Đời 16, cụ Nguyễn Trí Vị mang hàm Bá hộ, thi trúng tam trường võ thuật.
  • Đời 17, cụ Nguyễn Bá Ngạn từ phó đội thăng chánh đội, truy thăng Chánh Quản cơ.

Ba đời nối nhau trong ngạch nhà binh, từ Suất đội đến Bá hộ rồi Chánh Quản cơ, là một mạch võ quan hiếm có, dựng nên nền nếp và tiếng thơm cho con cháu về sau.

Gốc chữ lót "Bá"

Chữ "Bá" trong tên dòng họ khởi từ hàm Bá hộ của cụ Nguyễn Trí Vị ở đời thứ mười sáu. Sau khi cụ mang hàm ấy, các con trai của cụ lấy "Bá" làm chữ lót để ghi nhớ phẩm hàm và công trạng của cha, từ đó khai sinh cành Nguyễn Bá trong phái Nguyễn Trí. Chữ lót ấy truyền thẳng một mạch: Nguyễn Bá Ngạn, Nguyễn Bá Yến, Nguyễn Bá Mỹ, cho tới đời con cháu hôm nay.

Từ Lam Thủy vào Nam

Cội nguồn của dòng họ ở làng Lam Thủy, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Đó là quê gốc, nơi các đời tổ tiên từ đời thứ mười lăm đến đời thứ mười bảy khai sinh, lập nghiệp và yên nghỉ; cụ Nguyễn Bá Ngạn đời thứ mười bảy an táng tại Lam Thủy.

Về sau, cành Nguyễn Bá vào Nam, an cư trên vùng đất Hắc Dịch, nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, trước đây là tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Cụ Nguyễn Bá Yến đời thứ mười tám yên nghỉ tại đây, đánh dấu dòng họ đã bén rễ trên đất phương Nam.

Với đời thứ mười chín, Hắc Dịch là quê hương thứ hai, nơi lập nghiệp, dựng nhà và gắn bó trọn đời, bên cạnh quê gốc Lam Thủy vẫn khắc sâu trong tâm khảm. Với đời thứ hai mươi và đời thứ hai mươi mốt, những người con cháu sinh ra và lớn lên trên đất này, Hắc Dịch là quê hương thứ nhất, là nơi chôn nhau cắt rốn.

Con cháu mai sau cần tỏ tường điều ấy: dòng họ khởi nguồn từ Lam Thủy ngoài Trung, rồi đơm cành trên đất Hắc Dịch phương Nam. Một dòng họ hai miền quê, gốc rễ ngoài Trung và cành lá trong Nam, cả hai đều là quê hương đáng gìn giữ và tưởng nhớ.